Từ doanh nhân thành đạt đến doanh nhân kiến tạo

13/10/2026 17:39 123

Trung tướng TRẦN BÁ THIỀU • 13/10/2026 - 13:03-- Chưa bao giờ doanh nhân Việt Nam được đặt ở vị trí cao như hiện nay. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, coi doanh nhân là những “chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”. Lực lượng này hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách, sử dụng khoảng 82% lao động của xã hội.

cc4_041015280320262-0906-1302

Thượng tướng Bế Xuân Trường - Phó chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội CCB Việt Nam trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Hiệp hội Doanh nghiệp doanh nhân CCB Việt Nam đã có thành tích xuất sắc trong Phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Nhưng vai trò càng lớn, câu hỏi càng phải lớn: thành công của doanh nhân hôm nay đã đủ để tạo nên năng lực phát triển của đất nước ngày mai hay chưa? Hỏi vậy không phải để phủ nhận thành tựu, mà vì từ doanh nhân thành đạt đến doanh nhân kiến tạo vẫn còn một khoảng cách. Trước thềm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13-10, khoảng cách ấy cần được soi qua ba phép thử.

Từ làm chủ doanh nghiệp đến làm chủ công nghệ

Năm 2025, gần 297,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, nhưng cũng có 227,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, kể cả tạm ngừng kinh doanh. Sức sống kinh doanh là có thật; song số lượng chưa phải thước đo sức cạnh tranh.

Thước đo ấy nằm ở vị trí trong chuỗi giá trị. Năm 2025, xuất khẩu hàng hóa đạt kỷ lục 475 tỷ USD, nhưng khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 22,7%; hơn ba phần tư còn lại thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Ngân hàng Thế giới, trong báo cáo “Việt Nam 2045” (tháng 11-2024), lưu ý khoảng một nửa GDP và cứ hai việc làm thì có một phụ thuộc vào xuất khẩu, và khuyến nghị Việt Nam chuyển từ lắp ráp giá trị gia tăng thấp sang sản xuất, dịch vụ có giá trị cao hơn.

Giới nghiên cứu gọi đó là “đường cong nụ cười” - khái niệm do chính một doanh nhân, nhà sáng lập hãng máy tính Acer, nêu ra: phần giá trị lớn nhất nằm ở hai đầu, nơi có nghiên cứu, thiết kế và thương hiệu; đáy đường cong là gia công, lắp ráp. Một doanh nghiệp có thể tăng doanh thu rất nhanh mà vẫn đứng ở đáy, phụ thuộc vào công nghệ và thương hiệu của người khác.

Tham gia chuỗi giá trị chưa đồng nghĩa với làm chủ chuỗi giá trị. Bán được hàng cho thế giới chưa có nghĩa là thế giới cần đến mình.

Vì vậy, thước đo doanh nhân không thể chỉ là doanh thu, tài sản hay thị phần, mà phải là công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương hiệu và sản phẩm mới. Đó là bước chuyển từ khai thác cơ hội sang kiến tạo cơ hội.

Từ lợi ích doanh nghiệp đến trách nhiệm phát triển quốc gia

Kinh doanh trước hết phải có lợi nhuận. Không có lợi nhuận thì không có đầu tư, việc làm hay trách nhiệm xã hội. Tháng 10-1945, trong thư gửi giới Công Thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau”. Ngay từ buổi đầu dựng nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích quốc gia đã không bị đặt vào thế đối lập.

Vấn đề nằm ở cách tạo ra lợi nhuận. Có thứ lợi nhuận đến từ lợi thế ngắn hạn: đất đai, tài nguyên, lao động giá rẻ, thậm chí quan hệ. Có thứ lợi nhuận đến từ năng suất mới, công nghệ mới, việc làm tốt hơn và một chuỗi cung ứng trong nước cùng lớn lên. Thứ nhất là làm giàu cho một doanh nghiệp; thứ hai là làm mạnh cho cả nền kinh tế.

Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026 của Chính phủ đặt mục tiêu hình thành các tập đoàn tư nhân lớn, đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và lĩnh vực chiến lược. Doanh nghiệp càng lớn, càng được tin tưởng và giao việc lớn, thì trách nhiệm càng không thể dừng ở cổng nhà máy. Trách nhiệm ấy trước hết nằm trong chính hoạt động kinh doanh: tuân thủ pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ môi trường, đầu tư cho con người và để người lao động được chia sẻ xứng đáng thành quả họ góp phần làm ra. Một khoản tài trợ tạo ra giá trị tức thời; hàng vạn việc làm tốt, một thương hiệu Việt đứng được ở nước ngoài tạo ra giá trị lâu dài hơn nhiều.

Cũng cần tỉnh táo: không phải cứ doanh nghiệp lớn là mặc nhiên có tầm vóc lớn. Tầm vóc phải được chứng minh bằng giá trị thực chất, bằng việc lớn lên nhờ năng lực chứ không nhờ ưu ái. Lòng yêu nước của doanh nhân, vì thế, không đo bằng tuyên ngôn, mà bằng giá trị có ích cho đất nước tạo ra từ chính công việc kinh doanh.

Từ thành công của một cá nhân đến di sản của nhiều thế hệ

Có một phép thử ít được nói đến: doanh nghiệp sẽ ra sao khi người sáng lập không còn điều hành?

Nhiều doanh nghiệp Việt được dựng nên từ tài năng, ý chí và sự quyết đoán của một cá nhân. Đó là lợi thế khi khởi nghiệp; nhưng nếu mọi năng lực đều dồn vào một người, lợi thế ấy sẽ thành giới hạn. Ông cha ta có câu “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” - một quan sát dân gian mà nhiều nghiên cứu quốc tế về doanh nghiệp gia đình cũng ghi nhận: số cơ nghiệp vượt qua được thế hệ thứ hai, thứ ba không nhiều.

Doanh nhân có tầm vóc không chỉ tạo dựng một cơ nghiệp, mà phải tạo dựng một tổ chức đủ mạnh để vượt qua cái bóng của chính mình: quản trị minh bạch, đội ngũ kế cận đủ năng lực, văn hóa có chuẩn mực, cơ chế kiểm soát rủi ro và quyền lực. Nói cách khác, phải biến tài năng cá nhân thành năng lực tổ chức.

Thế hệ doanh nhân đầu tiên của thời đổi mới đang bước vào tuổi chuyển giao. Nếu người kế nghiệp chỉ thừa hưởng tài sản mà không thừa hưởng văn hóa, năng lực quản trị và khát vọng sáng tạo, thì đó mới là chuyển giao quyền sở hữu, chưa phải chuyển giao một cơ nghiệp. Di sản lớn nhất của doanh nhân không phải là tài sản để lại, mà là một doanh nghiệp vẫn sáng tạo, cạnh tranh và đóng góp nhiều thập niên sau khi người sáng lập rời ghế điều hành.

Muốn có doanh nhân lớn, phải có môi trường tương xứng

Ba phép thử trên không thể đặt trọn lên vai doanh nhân. Khó ai dám đầu tư mười năm cho công nghệ nếu chính sách thay đổi theo từng năm. Nhà nước phải tạo dựng một môi trường ổn định, minh bạch, dự báo được: quyền tài sản được bảo vệ, cạnh tranh công bằng, chi phí tuân thủ hợp lý; vốn, đất đai, dữ liệu và nhân lực được tiếp cận theo nguyên tắc rõ ràng.

Từ Đổi mới đến Nghị quyết 41-NQ/TW năm 2023 về đội ngũ doanh nhân và Nghị quyết 68, đường lối của Đảng nhất quán theo hướng ấy: kinh tế tư nhân cùng kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Việc còn lại là thực thi.

Nhưng thuận lợi không có nghĩa là buông lỏng kỷ luật. Khuyến khích doanh nhân phải đi cùng kiểm soát lợi ích nhóm, ngăn sự móc nối giữa quyền và tiền, xử lý nghiêm vi phạm pháp luật. Xã hội cần tôn trọng người làm giàu chính đáng, đồng thời phân biệt rõ chấp nhận rủi ro trong sáng tạo với chấp nhận rủi ro bằng cách lách luật.

Việt Nam cần những doanh nhân biết làm giàu. Nhưng đất nước hôm nay cần hơn thế: Những người biết biến vốn thành năng lực sản xuất, biến tri thức thành công nghệ, biến doanh nghiệp thành thương hiệu, và biến thành công của mình thành sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Khát vọng của doanh nhân và khát vọng của dân tộc chỉ thực sự gặp nhau khi doanh nghiệp lớn lên cùng không gian phát triển của đất nước. Một thế hệ doanh nhân lớn sẽ không được nhớ bởi những khối tài sản họ nắm giữ, mà bởi những năng lực mới họ để lại cho quốc gia.

Theo/ Báo cựu chiến binh Việt Nam

Quảng cáo 2